::G.R.A.C - Trung Tâm Nghiên Cứu và Ứng Dụng Địa Chất::

  • Narrow screen resolution
  • Wide screen resolution
  • Auto width resolution
  • Decrease font size
  • Default font size
  • Increase font size
  • default color
  • red color
  • green color
 
Buổi làm việc của thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc về dự án xây dựng cơ sở dữ liệu Buổi làm việc của thứ trưởng Nguyễn Linh Ngọc về dự án xây dựng cơ sở dữ liệu ...
HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG NGUYỄN VĂN THUẤN VÀ ĐOÀN VIỆT NAM THAM DỰ ASOMM LẦN THỨ 12 VÀ ASOMM+3 LẦN THỨ 5 TẠI BRUNEI DARUSSALAM HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG NGUYỄN VĂN THUẤN VÀ ĐOÀN VIỆT NAM THAM DỰ ASOMM LẦN THỨ 12 V...
 
You are here: Trang Chủ Nghiên Cứu THAY ĐỔI MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ CHỨNG CỨ BIỂN TRÀN HOLOCEN SỚM- GIỮA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ LỖ KHOAN DT1
THAY ĐỔI MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ CHỨNG CỨ BIỂN TRÀN HOLOCEN SỚM- GIỮA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ LỖ KHOAN DT1 PDF. In Email
Chủ nhật, 17 Tháng 4 2011 01:39

THAY ĐỔI MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH VÀ CHỨNG CỨ BIỂN TRÀN
HOLOCEN SỚM- GIỮA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ LỖ
KHOAN DT1

Tạ Thị Kim Oanh, Nguyễn Văn Lập
Phân Viện Địa lý tại TP. Hồ Chí Minh, Viện KH&CN Việt Nam

Mở đầu
Mối liên hệ giữa môi trường trầm tích và thay đổi mực nước biển trong thời Holocen
ở Đồng bằng sông C ửu Long ( ĐBSCL) đã được th ảo luận trong m ột số công trình nghiên
cứu [1,6,7]. Biển tràn Holocen giữa đã để lại nhiều bằng chứng khá phổ biến trong trầm tích
ĐBSCL [3,6,7,8], tuy nhiên giai đọan biển tràn Holocen s ớm - gi ữa chưa được nghiên c ứu
chi tiết. Báo cáo này trình bày k ết quả nghiên cứu về đặc điểm trầm tích, vi cổ sinh tảo Silic
và trùng l ỗ, tuổi tuy ệt đối 14C c ủa l ỗ khoan DT1 t ỉnh Đồng Tháp, cho th ấy thay đổi môi
trường trầm tích và ch ứng cứ biển tràn Holocen s ớm- giữa trong đồng bằng tam giác châu
trên của ĐBSCL.

Công trình nầy được hoàn thành v ới sự hỗ trợ kinh phí c ủa Hội Đồng Khoa Học Tự
Nhiên và là m ột ph ần c ủa d ự án h ợp tác nghiên c ứu khoa h ọc của Phân Vi ện Địa Lý t ại
Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Niigata và C ục Địa Chất Nhật Bản. Chân thành c ảm ơn
TS. Y. Saito đã hỗ trợ phân tích tu ổi tuyệt đối, ThS. Bùi Th ị Luận giúp phân tích và góp ý
kiến về trùng lỗ .

Tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Mẫu lõi khoan có đường kính 45mm được lấy suốt chiều dài lỗ khoan. Mẫu lõi khoan
được chụp ảnh và X quang nghiên c ứu cấu trúc tr ầm tích, ph ần còn l ại được cắt 2 cm/m ẫu
đối với thành phần sét, bột-cát. Tổng số 258 mẫu được phân tích thành phần cấp hạt, 54 mẫu
phân tích diatom, 51 mẫu phân tích trùng l ỗ được nhận diện và đếm dưới kính hiển vi quang
học. 4 m ẫu tuổi tuyệt đối C14từ mảnh thực vật và v ỏ sò được xác định bằng phương pháp
AMS (Accelerator Mass Spectrometry) tại Trung tâm Beta Analytic Inc.

Kết quả nghiên cứu

1. Tướng trầm tích Holocen


Trên cơ sở tổng hợp đặc điểm trầm tích, sự thay đổi của các phức hệ tảo silic, trùng lỗ
và tuổi tuyệt đối C14 của lỗ khoan DT1, các t ướng trầm tích được xác định từ dưới lên trên
như sau (hình 2):

- Tướng bột cát đầm lầy/bãi triều có chi ều dầy 15,5m g ồm bột cát và sét b ột. Phần
trên có cấu trúc phân lớp song song và th ấu kính, viên cuội sét và các lớp than bùn phổ biến.
Phần dưới chủ yếu là bột và sét bột với thấu kính cát và khá nhi ều lớp than bùn có chi ều dầy
khỏang 10mm. Tr ầm tích này t ương ứng với phức hệ t ảo silic đặc trưng bởi các gi ống lòai
nước ng ọt và l ợ nh ư Achnanthes brevipes , Aulacoseira granulata , Cyclotella caspia, C.
styrolum, Cymbella spp., và Eunotia spp [1,6]. Các gi ống lòai trùng l ỗ Arenoparella sp.,
Haplophragmoides sp. and Jadammina sp. cho thấy sự hiện diện của đầm lầy rừng ngập mặn
[4]. Tảo silic n ước ngọt hiện diện phong phú ở phần trên c ủa trầm tích. Các đặc điểm trên cho thấy đây là môi tr ường đầm lầy/bãi triều chịu tác động của sông và có tu ổi 11.285 đến
10.557 năm trước hiện tại
- Tướng bột cát bãi dưới- gian triều có thành phần sét bột màu nâu xám, nâu sẫm dầy
khỏang 11m đặc trưng bởi cấu trúc phân lớp song song của bột cát và các lớp than bùn với sự
hiện diện phổ biến của cuội sét. Tướng trầm tích này được đặc trưng bởi sự ưu thế của phức
hệ t ảo n ước l ợ và bi ển trôi n ổi v ới các gi ống lòai Cyclotella caspia, C. styrolum và
Thalassiosira excentrica dồi dào. Các giống lòai trùng lỗ biển nông ven bờ như Ammonia sp.,
Elphidium sp. và Quinqueloculina sp. [4] c ũng được tìm th ấy. Trầm tích được hình thành
trong môi trường nước lợ đến mặn từ bãi triều thấp đến gian triều, mực nước biển đang dâng
lên cao h ơn mực nước biển của môi tr ường đầm lầy/bãi triều bên d ưới. Phần trên cùng c ủa
trầm tích này được xác định có tuổi tuyệt đối 8.439 năm trước hiện tại.
- Tướng bùn vịnh biển kín/prodelta dầy 8m có thành phần chủ yếu là bột cát. Các cấu
trúc phân lớp gián đọan phổ biến và những lá cát r ất mịn hiện diện ở phần giữa và dưới của
trầm tích này. Cấu trúc phân lớp song song, dợn sóng thường thấy ở phần trên với những lớp
cát rất mịn. Mảnh vỏ sò ốc, mảnh thực vật và v ết tích họat động của sinh vật hiện diện phổ
biến. Tr ầm tích này đặc tr ưng b ởi t ảo n ước m ặn trôi n ổi và n ước l ợ [6,8]. Thalasiosira
excentrica, Cyclotela caspia và C. styrolum ưu th ế ở ph ần d ưới và Cyclotela caspia , C.
styrolum trở nên phong phú h ơn ở phần trên của trầm tích. Ngoài ra, Aulacoseira granulata,
Coscinodiscus nodulifer , C. radiatus, Grammatophora oceanica và Paralia sulcata c ũng
hiện diện. Điều này cho thấy tác động của quá trình sông gia tăng dần lên phía trên. Trùng lỗ
đặc trưng bởi Ammonia spp., Asterorotalia sp., Elphidium sp. và Quinqueloculina spp. của
biển nông ven b ờ cũng được tìm th ấy. Các k ết qu ả này cho th ấy đây có th ể là môi tr ường
vịnh biển kín/prodelta.
- Tướng bột cát delta front có chiều dầy 8m gồm những lớp bột, bột cát và cát mịn có
màu xám xanh xen kẹp với nhau, thành phần cát gia tăng dần lên phía trên. Cấu trúc trầm tích
đặc trưng bởi phân l ớp song song, phân l ớp gián đọan, dợn sóng, th ấu kính. Hang sinh v ật
phổ biến, vỏ sò ốc và v ảy mica hi ện diện rải rác trong tr ầm tích. T ướng tr ầm tích này đặc
trưng bởi các giống lòai tảo nước lợ với Cyclotella caspia và C. styrolum rất dồi dào [8]. Sự
hiện diện của trùng lỗ hiếm dần lên phía trên v ới một vài lòai tiêu bi ểu cho biển ven bờ như
Ammonia spp., Asterorotalia sp., Elphidium sp., và Quinqueloculina spp. T ướng tr ầm tích
này có thể xác định là tướng bột cát delta front với tuổi 7.090 năm trước hiện tại.
- Tướng bột cát bãi d ưới- gian tri ều dầy 7m gồm những lớp bột cát và cát m ịn xám
sẫm, thay đổi theo hướng mịn dần lên trên. C ấu trúc phân l ớp song song, th ấu kính khá ph ổ
biến, vết tích sinh v ật giảm dần và hiếm vỏ sò ốc nhưng vật liệu hữu cơ dồi dào hơn. Trầm
tích này ch ứa phức hệ t ảo silic đặc trưng bởi sự trộn lẫn các gi ống lòai trôi n ổi nước mặn,
nước lợ và nước ngọt. Phổ biến là Cyclotella caspia và C. styrolum. Các lòai tảo Aulacoseira
granulata, Coscinodiscus nodulifer, C. radiatus, Paralia sulcata và Thalassiosira excentrica
hiện diện với số lượng ít. Trùng l ỗ hiếm và không tìm th ấy ở phần trên. Đây là môi tr ường
bãi triều thấp đến gian triều.
- Tướng sét bột đầm lầy/đồng lụt với chiều dầy 2m gồm bột sét và sét xám nâu giàu
hữu cơ và vảy mica. Đặc trưng bởi cấu trúc phân l ớp song song và có s ự hiện diện của đốm
phèn jarosite ở phần trên của trầm tích. Tảo silic và trùng lỗ không tìm thấy trong mẫu. Trầm
tích này được hình thành trong môi tr ường đầm lầy/đồng lụt c ủa đồng bằng tam giác châu
trên.

2. Biển tràn Holocen sớm-giữa và sự lấp đầy thung lũng bào mòn

Thay đổi môi tr ường trầm tích trong l ỗ khoan DT1 liên quan ch ặt chẽ với dao động
mực nước biển trong th ời Holocen. Lo ạt tr ầm tích d ầy 34,5m t ừ tướng bột cát đầm lầy/bãi
triều, t ướng bột cát bãi d ưới- gian tri ều đến tướng bùn v ịnh bi ển kín/prodelta minh ch ứng
mực n ước bi ển đang dâng và được xác định tu ổi t ừ11.285 đến 7.090 n ăm tr ước hi ện t ại.
Những tài liệu này cho thấy sự hiện diện của biển tràn Holocen sớm-giữa trong lọat trầm tích
của lỗ khoan DT1. Có thể liên hệ với lọat trầm tích của lỗ khoan BT2 ở Bến Tre với trầm tích
lấp đầy thung lũng bào mòn được định tuổi từ 13.000 đến 5.300 năm trước hiện tại [6,7]. Cả
hai lỗ khoan BT2 và DT1 đều là v ị trí c ủa thung lũng bào mòn c ủa sông C ửu Long, nhưng
DT1 ở đồng bằng tam giác châu trên ĐBSCL còn BT2 ở vị trí đồng bằng tam giác châu dưới.
Các thung l ũng bào mòn này được hình thành trong giai đọan băng hà cu ối cùng khi m ực
nước biển hạ thấp xuống -120m so với mực biển hiện tại [9]. Khi mực biển dâng lên sau đó,
các thung lũng bào mòn là n ơi dễ được trầm tích biển lấp đầy nhanh chóng [2]. S ự thay đổi
từ t ướng đầm l ầy/bãi tri ều, t ướng b ột cát bãi d ưới- gian tri ều đến t ướng bùn v ịnh bi ển
kín/prodelta liên quan đến mực nước biển dâng nhanh trong Holocen sớm -giữa ở vị trí DT1.
Giai đoạn tiếp theo, m ặc dù m ực nước biển đang dâng, nhưng có l ẽ do ngu ồn vật liệu tr ầm
tích dồi dào từ sông Cửu Long cung c ấp, loạt trầm tích delta front r ồi đầm lầy bãi triều tiếp
tục hình thành và cuối cùng là đầm lầy/đồng lụt như môi trường hiện tại.

Kết luận


Kết qu ả phân tích l ỗ khoan DT1 cho th ấy tướng tr ầm tích Holocen t ương ứng với
thay đổi mực nước biển trong thung lũng bào mòn sông Cửu Long. Sáu tướng trầm tích được
phân chia gồm tướng bột cát đầm lầy/bãi triều, tướng bột cát bãi dưới- gian triều, tướng bùn
vịnh biển kín/prodelta, t ướng bột cát delta front, t ướng bột cát bãi d ưới- gian triều và t ướng
sét bột đồng lụt. Lo ạt trầm tích dầy 34,5m từ tướng bột cát đầm lầy/bãi triều, tướng bột cát
bãi dưới- gian tri ều đến tướng bùn v ịnh biển kín/prodelta minh ch ứng mực nước biển đang
dâng và được xác định tu ổi từ11.285 đến 7.090 n ăm tr ước hiện t ại là ch ứng cứ bi ển tràn
Holocen sớm -giữa ở đồng bằng tam giác châu trên ĐBSCL.

Tài liệu tham khảo


[1] Lê Đức An, 2004. V ề địa tầng và ki ểu tích đọng của trầm tích Holocen ở Đồng
bằng sông Cửu Long. Tài liệu phục vụ hội nghị Địa tầng hệ Đệ Tứ các châu thổ ở Việt nam,
Hà Nội, 124-132

[2] T. Hanebuth, K. Stattegger, P.M. Grootes, 2000. Rapid flooding of the Sunda
Shelf: a late-Glacial sea-level record. Science 288, 1033-1035

[3] Nguyen Van Lap, Ta Thi Kim Oanh, 2003: Sediment facies and evidence of
middle Holocen transgression in the VL1 core, Mekong river delta. Tc. Phát tri ển Khoa học
và Công nghệ 6/12, 45-53.

[4] Đỗ Văn Long, Nguyễn Ngọc, 1979. Đặc điểm Trùng lỗ Holoxen Đồng bằng sông
Cửu Long. Địa chất khoáng sản I, 341-348

[5] Đào Thị Miên, 1985. Các ph ức hệ Tảo silic (Diatomeae) Đệ tứ ở vùng trung tâm
đồng bằng sông Cửu long và ý nghĩa của chúng. Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, 7, 33-34

[6] Tạ Thị Kim Oanh, Nguy ễn Văn Lập, 2000. Diatom- ch ỉ thị môi trường trầm tích
và dao động mực nước biển trong Pleistocene mu ộn- Holocene. T ạp chí Các Khoa h ọc về
Trái Đất, 22(3), 226-233.

[7] Ta, T.K.O., Nguyen, V.L., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y., 2001 .
Sedimentary facies, diatom and foraminifer assemblages in a late Pleistocene–Holocene
incised-valley sequence from the Mekong River Delta, Bentre Province, Southern Vietnam:
the BT2 core. Journal of Asian Earth Science, 20, 83-94.

[8] Tạ Thị Kim Oanh, Nguy ễn Văn Lập, 2004. Các ph ức hệ diatom và môi tr ường
trầm tích Pleistocen muộn- Holocen ở Bến Tre- Vĩnh Long, đồng bằng sông Cửu Long. Tạp
chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. 7/10, 46-50.

[9] C.D. Woodroffe, 1993: Late Quaternary evolution of coastal and lowland riverine
plains of Southeast Asia and northern Australia: an overview. Sedimentary Geology, 83, 163-
175.

Comments (0)Add Comment

Write comment

busy
 

Khách Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay524
mod_vvisit_counterHôm qua699
mod_vvisit_counterTuần này1978
mod_vvisit_counterTuần trước7102
mod_vvisit_counterTháng này13074
mod_vvisit_counterTháng trước21093
mod_vvisit_counterTổng cộng1886662

We have: 6 guests, 1 bots online
Your IP: 54.87.93.1
 , 
Today: 17-Tháng 9-2014

Dự Báo Thời Tiết